Last updated: 01-06-2006

Trang Tài Liệu       homeTrang nhà    

Volume 02  Issue 09

Giải Đáp Mật Mă Da Vinci

Ngày 19-05-2006 vừa qua, các rạp bóng tại Hoa Kỳ đă cho chiếu 1 cuốn phim rất mâu thuẫn và có tính cách nhạo báng đức tin của hằng triệu người Kitô Hữu trên thế giới. Cuốn phim mang tựa đề Mật Mă Da Vinci (The Da Vinci Code), là một vở phim được sản suất sau khi thấy sự thành công (nhà xuất bản bán hơn 4 triệu cuốn) của nhà văn Dan Brown với tác phẩm Mật Mă Da Vinci - một loại truyện tiểu thuyết ly kỳ (fiction thriller). Là những người dạy giáo lư cho giới trẻ, đặc biệt với các em lớn (từ lớp 7 trở lên), chúng ta có trách nhiệm t́m hiểu những vấn đề này và chuẩn bị tâm lư để giải đáp các thắc mắc nếu cần. Mời bạn cùng HC t́m hiểu sơ qua về những điểm hoàn toàn sai lạc của cuốn sách và phim Mật Mă Da Vinci.

Nguồn Gốc Tác Phẩm

Người Việt Nam chúng ta thường nói: “nói có sách, mách có chứng”, nhưng xem ra tác giả đă không dựa trên những tài liệu đáng tin cậy. Nhà văn Dan Brown đă từng là một giáo viên trung học và chuyên dạy Anh Ngữ. Ông ta đă sáng ta 3 cuốn tiểu thuyết ly kỳ: Digital Fortress, Deception Point, và Angels and Demons. Ông Brown đă tốn hơn một năm trời để nghiên cứu các tài liệu liên quan tới những chương thám hiểm cho cuốn sách thịnh hành của ông. Những cảm hứng khiến ông Brown chọn viết cuốn Mật Mă Da Vinci xuất phát từ sau khi đọc xong những sách dưới đây:

  • Holy Blood, Holy Grail by Michael Baigent, Richard Leigh, and Henry Lincoln
  • The Messianic Legacy by Michael Baigent, Richard Leigh, and Henry Lincoln
  • The Dead Sea Scrolls Deception by Michael Baigent and Richard Leigh
  • The Goddess in the Gospels: Reclaiming the Sacred Feminine by Margaret Starbird
  • The Woman with the Alabaster Jar: Mary Magdalene and the Holy Grail by Margaret Starbird
  • The Templar Revelation: Secret Guardians of the True Identity of Christ by Lynn Picknett and Clive Prince
  • Jesus and the Lost Goddess: The Secret Teachings of the Original Christians by Timothy Freke and Peter Gandy
  • When God Was a Woman by Merlin Stone
  • The Chalice and the Blade: Our History, Our Future by Riane Eisler

Tựa đề những sách vừa liệt kê ở trên là một loạt sách thuộc loại Thời Đại Mới (New Age), một phong trào cấp tiến chú trọng đến việc tuyên truyền các âm mưu huyền bí, những hội đoàn bí mật hầu định nghĩa lại các tín lư Kitô giáo và nhất là đẩy mạnh thuyết nam nữ b́nh quyền (feminism).

Bà Margaret Starbird tự xưng là một người Công Giáo và những nghiên cứu của bà ta đă dẫn tới những khám phá về những tín đồ tôn thờ “thánh nữ” - nhập thể qua Maria Mai-đệ-liên. Những sách bà viết đều hàm chứa những giả thuyết sau đây:

  • Chúa Giêsu có vợ, và vợ con của Đức Giêsu phải bỏ chốn sang Gaul để tránh bị bắt hại tại Giêrusalem. Qua sự diễn giải mập mờ bằng toán số áp dụng vào 4 phúc âm, bà Margaret xác nhận rằng sự đồng trinh của Đức Giêsu không có thật.
  • Truyền thống linh mục độc thân của GH Lamă (Rôma) bắt nguồn từ sự chối từ chủ nghĩa quân b́nh và đă dẫn tới sự đè bẹp phái nữ trong GH.
  • Theo lư lẽ đó, Kitô giáo đáng nhẽ phải chú trọng đến sự thần thánh hóa cuộc phối hợp nam nữ giữa Chúa Giêsu và Maria Mai-đệ-liên. Đây mới chính là nền tảng và tâm điểm mà GH thời sơ khỏi muốn bành trướng.

C̣n các ông Michael Baigent, Richard Leigh, và Henry Lincoln là những nhà văn thịnh hành vào thập niên ’80. Họ đưa ra giả thuyết Maria Mai-đệ-liên lập gia đ́nh với Đức Giêsu và ḍng giống của Đức Giêsu vẫn c̣n tồn tại dưới dạng Prieure d’Sion (Đan Viện Sion). Ông Brown đă đọc các sách này một cách tỷ mỷ để dùng những biến cố và các lư lẽ kết thành truyện Mật Mă Da Vinci.

Cuối cùng là cuốn sách Templar Revelation của 2 ông Picknett and Prince. Một lần nữa, theo các sử gia chuyên môn như ông L.D. Meagher nói, cuốn sách này đưa ra những giả thuyết như: câu truyện giáng sinh là một bí ẩn, hành tŕnh truyền giáo của Đức Giêsu bị diễn giải một cách sai lầm, và cuối cùng là cuộc thương khó của Người chẳng qua chỉ là một vở kịch mà kết quả không đúng theo sự dự tính. Họ c̣n nói rằng Khăn Liệm Turin (Shroud of Turin) chẳng qua là một tấm ảnh mà chính họa sĩ Leonardo Da Vinci đă tự biến chế để chụp h́nh chính ḿnh. Trong cuốn sách thứ 2, họ c̣n phác họa thêm rằng ông Da Vinci là phần tử của Đan Viện Sion, một hội đoàn bí mật mà vẫn c̣n hoạt động âm thầm tại Âu Châu. Nói cho cùng sách của các ông này kết luận một cách rất mờ ám rằng: âm mưu bí ẩn về Kitô giáo đă được thực hành từ 2000 năm trước. Ṭa thánh Vatican đă đè nén những sự thật về Đức Kitô và Đan Viện Sion góp phần che đậy sự thật này.

Những Giả Thuyết Sai Lầm

Bởi v́ sách này là tiểu thuyết ly kỳ nên ông Brown đă khéo léo dùng những món và nhân vật lịch sử (bức tranh Mona Lisa, các nhân vật như Leonardo DaVinci, các cuốn sách cổ đươc khám phá vào khoảng năm 1945) để tưởng tượng ra một vở truyện thật ly kỳ và thu hút. Nhưng ngược lại, những điều ông viết đă gây chấn động v́ nó có tích phản kích lại những tín lư về Chúa Kitô và c̣n bôi nhọ GH Công Giáo nói riêng. Chúng ta có thể tóm lược những ư tưởng xuyên tạc của Dan Brown mà đă gây ra nhiều sự sai lầm:

  1. Tục phàm hóa Đức Giêsu Kitô
  2. Nguồn gốc các phúc âm thập niên 1940
  3. Vai tṛ phụ nữ trong giáo hội & Maria Mađalêna
  4. Một Hội Đoàn Công Giáo & Tổ Chức Bí Mật – Đan Viện Sion

Tục Phàm Hóa Đức Giêsu

Chúa Kitô mang 2 bản tính, nhưng đă nhiều lần các bè rối đă tục phàm hóa Người. Trong chương tŕnh thần học, có một đề tài chuyên môn gọi là Kitô Học (Christology). Đă có nhiều sách vở viết để phần nào đáp ứng sự t́m hiểu của người học về nhân tính và thiên tính của Chúa Giêsu Kitô. Đây là một đề tài khó hiểu theo lư lẽ thông thường, và v́ vậy mà chúng ta thấy trong lịch sử giáo hội đă có 4 công đồng hoàn vũ họp để xác định rơ ràng về tín lư liên quan tới Đức Kitô. Các công đồng dưới đây đă bàn thảo để thống nhất tín lư về Đức Giêsu như sau:

  • CĐ Nicae, năm 325, họp để giải tán sự sai lầm của bè rối Arius. Nhóm này do một linh mục tại Alexandria, cha Arius, nói rằng Chúa Giêsu không phải là Thiên Chúa dựa theo đoạn phúc âm Gioan 14:28. Công đồng Nicae đă học hỏi và t́m hiểu kinh thánh kỹ càng và chiếu theo 2 đoạn phúc âm của Gioan 1:1, 10:3 để công nhận rằng ngay từ đầu, Đức Giêsu có thiên tính và là Thiên Chúa đích thực. Tín lư này được tuyên xưng hằng tuần trong thánh lễ qua kinh Tin Kính Nicae: “Tôi tin kính Đức Giêsu Kitô là Con một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi ” Trong kinh Tin Kính tiếng Hy-lạp, công đồng đă dùng danh từ homoousios để diễn tả đức tin hoàn vũ.
  • Đáng tiếc là hơn 50 chục năm sau, bè rối Arius vẫn chưa buông xuôi. Họ xin hoàng đế can thiệp v́ nói từ homoousios không có nguồn gốc từ kinh thánh. Họ c̣n gây ra sự xuyên tạc khác đó là chối từ thiên tính của Ngôi Ba Thiên Chúa. Năm 381 CĐ Con-stăng-tin đă một lần nữa công bố sự sai lầm của bè rối Arius và công nhận Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là “Đấng ban sự sống”. Phần này được thêm vào kinh Tinh Kính Nicae.
  • Công đồng Ephasus (họp vào năm 431 dưới sự chủ tọa của đức giáo hoàng Cê-lét-tin I và 150 vị giám mục trong đoàn giáo phẩm), một lần nữa đă đi sâu hơn về sự ḥa hợp thiên tính và nhân tính trong một con người của Đức Kitô. Cũng từ những tín lư này, tước vị Đức Trinh Nữ Maria “Mẹ Thiên Chúa” (Theotokos) thay v́ “Mẹ Đức Kitô” (Christokos) được minh bạch một cách rơ ràng. Theo tín lư này, GH bắt đầu tôn kính Đức Maria - Mẹ Thiên Chúa, và ngày nay chúng ta mừng lễ trọng này vào ngày 01 tháng 01 mỗi năm.
  • Công đồng Chan-xê-đôn (Council of Chalcedon 451) họp sau Ephasus 20 năm. Một lần nữa ĐTC Lêo I đă viết thư công bố lại về tín điều: Đức Giêsu có 2 nhân tính. Thiên tính và nhân tính không thể được gồm lại để rồi thành tính thứ 3. Chúa Giêsu hoàn toàn là Thiên Chúa thật và Người cũng là một con người trong mọi bản chất.

Những tín lư trên kia đă trở nên tảng đá đức tin cho bao thế hệ Kitô giáo. Đức tin này là một mầu nhiệm và được bắt đầu bằng ân sủng, v́ qua ân sủng chúng ta đón nhận đức tin. Mầu nhiệm đức tin không thể nào chứng minh một cách thông thường: lư lẽ dựa trên các biến cố lịch sử và nhân chứng. Qua thánh kinh và các sách lịch sử của Do Thái, chúng ta nhận rằng các nhân chứng của thời Đức Giêsu đă được nh́n thấy khía cạnh nhân tính thay v́ thiên tính. Họ được tự mắt thấy tai nghe về các phép lạ và các dấu chỉ để rồi tin vào thiên tính và uy quyền của Chúa Giêsu Kitô. Nhờ vào sự gặp gỡ Chúa Giêsu qua kinh thánh và các giáo lư của các công đồng và ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta tin vào thiên tính của Đức Giêsu.

Th. A-tha-na-si-út, một trong những tổ phụ giáo hội nói: “Ngôi Lời nhập thể để con người được thánh hóa.”. Sự cứu rỗi của toàn thể nhân loại trông nhờ vào sứ mệnh của Đức Giêsu Kitô – là Thiên Chúa và là ḍng dơi Vua Đavít. Nói tóm lại Đức Giêsu được sinh ra và đến để cứu chuộc nhân loài. V́ thế mặc dù mang tính xác phàm, đó chỉ là một phần trong kế hoạch cứu chuộc. Đức Giêsu Nazarét không xuống thế gian để trở thành một người đàn ông tầm thường: có vợ và con cái như những người đàn ông khác. Con Thiên Chúa xuống thế làm người để nhờ đó con người được trở nên con cái Thiên Chúa (Th. Au-gút-tin).

Những ǵ được chép trong sách phúc âm Tôma, Giuđa, và Maria Mai-đệ-liên không trung thực với 4 phúc âm chính bởi v́ nó hàm chứa những khía cạnh có tính cách tục phàm hóa Đức Giêsu Kitô. Thế nên nh́n qua ống kiếng lịch sử và những giáo huấn của các đấng tổ phụ và các công đồng, những tài liệu này không thể nào coi là những tài liệu trung thực.

Nguồn Gốc Các Sách Khám Phá Trong Thập Niên 1940

Toàn bộ thánh kinh Công Giáo gồm 46 sách trong Cựu Ước và 27 sách trong Tân Ước. Các sách trong T.U. đă trải qua một thời gian khá lâu để được liệt vào phần này của kinh thánh. Để được kê liệt là đúng với tiêu chuẩn giáo luật, các tài liệu này đă trải qua những giai đoạn và kiểm chứng theo 4 tiêu chuẩn dưới đây:

  1. Những ǵ được viết xuống phải có nét Tông Truyền. Có nghĩa là các sách này phải được viết chiếu theo sự truyền rao và dạy dỗ của các vị tông đồ đời thứ nhất hoặc những vị rất gần gũi với các ngài. Các sách trong Tân Ước đă được ghi chép vào khoảng 50 ad cho tới năm 100 ad.
  2. Sau khi được ghi chép, các tài liệu này được sự chấp nhận của các cộng đoàn Kitô hữu chính tại Địa Trung Hải vào cuối thế kỷ thứ 4.
  3. Được áp dụng trong nghi thức phụng vụ. Các bài được công bố cùng với các bài trong Cựu Ước khi cộng đoàn cử hành nghi thức Bữa Tiệc Ly.
  4. Ư nghĩa thần học phải trung thực với các sách khác. Có nghĩa là các tư tưởng phải chú trọng tới Chúa Giêsu mà không đối nghịch tín lư thiên tính/nhân tính của Đức Kitô.

Các sách khám phá từ năm 1945 tới 1947 gồm có sách Tôma, Giuđa, Maria Mai-đệ-liên, và Giacôbê có những nét Kitô giáo trong đó, nhưng chứa hàm lư thuyết giác ngộ (gnosticism). V́ vậy, các sách này không được chấp nhận theo giáo luật v́ cả 4 tiêu chuẩn liệt kê ở trên đều không đạt được. Thêm vào đó các nhà nghiên cứu kinh thánh c̣n công nhận rằng các sách trên được viết trễ hơn (khoảng 200ad) là các sách trong phần Tân Ước. Một lần nữa tài liệu mà tác giả Dan Brown dùng không trung thực.

Vai Tṛ Phụ Nữ Trong Giáo Hội & Maria Mai-đệ-liên

Trong 4 phúc âm, chúng ta thấy các thánh sử nói về một nhóm các người đàn bà trung thành tháp tùng Đức Giêsu trong sứ vụ rao giảng của Người, và đặc biệt là họ hiện diện nhiều lần trong cuộc thương khó. Các bà được diễm phước là những nhân chức đầu tiên đê đi loan sự Phục Sinh của Chúa Kitô. Trong Công Vụ và các thơ thánh Phaolô cũng nhắc tới sự hỗ trợ của các phụ nữ trong sứ vu rao giảng tin mừng. Nói rơ hơn, kinh thánh và GH đă đặc biệt tỏ sự kính trọng phụ nữ ngay từ thưở ban đầu.

Trong lịch sử GH, đă có biết bao nhiêu các thánh nữ được tôn kính và ghi nhớ đến. Trong mỗi thời đại, Thiên Chúa đă dùng các vị như Th. Scholastica, Clara, Têrêsa, Monica, Catherine… v.v… để giúp thánh hóa GH và vượt qua những thử thách. Nhưng phải nói người nữ đặc biệt nhất trong các thánh nữ là Đức Mẹ Maria, một người mẹ, một nữ tỳ khiêm nhượng và người môn đệ hoàn hảo.

Như vậy, sự chỉ trích về GH Công Giáo “trọng nam kinh nữ” là không đúng với sự thật theo như các tài liệu mà tác giả sách Mật Mă Da Vinci đă dùng để tuyên truyền. Các thánh nam và nữ trong GH được kính trọng như nhau v́ tất cả đă mang lại sự đa dạng trong đại gia đ́nh vương quốc. Họ trở nên thánh v́ đă thực tâm sống cuộc đời môn đệ, noi gương theo Chúa Giêsu.

Maria Mai-đệ-liên, môn đệ trong các môn đồ, được diễm phước gần gũi và hiện diện trong những giờ phút quan trọng (trên đồi Can-vê & phục sinh). Tác giả Dan Brown phác hoạ tư tưởng (theo sách phúc âm Tôma) rằng Maria Mai-đệ-liên có sự liên quan thân mật với Đức Giêsu. Ông ta tạo cho người đọc một tư tưởng là v́ mối liên hệ mật thiết này mà các vị tông đồ khác như Phêrô, Anrê và Giacôbê đă tỏ ra khó chịu và sợ mất đi quyền bính v́ Chúa Giêsu đă trao quyền hành cho Maria Mai-đệ-liên. Thật sự ra trong sách Tôma không bao giờ nói về điểm này.

Trong 4 tin mừng, các thánh sử cho ta tấy Chúa Giêsu không chỉ gần gũi với Maria Mai-đệ-liên. Người đặc biệt thương mến các anh chị em Martha, Maria, & Lazarô (vùng Bêtania), Phêrô, Giacôbê và Gioan. Tư tưởng về mối liên hệ vợ chồng giữa Chúa Giêsu & Maria Mai-đệ-liên của tác giả Brown hoàn toàn sai lầm và không thể nào diễn giải được dựa trên các tài liệu thánh kinh trung thực. Thêm vào đó, trong các sự bất ḥa của các tông đồ, thánh kinh chỉ duy nhất nhắc lại biến cố xích mích giữa th. Phêrô & Phaolô mà thôi. Như vậy, các sách Tân Ước cho ta thấy sự tranh dành giữa các vị tông đồ và Maria Mai-đệ-liên là một giả thuyết không chứng minh được. Tóm lại Mai-đệ-liên không thể nào là “thánh nữ” và là vợ của Đức Giêsu như ông Brown truyền rao một cách lầm lẫn.

Đoàn Thể Công Giáo Bí Mật

Opus Dei, tiếng La-tinh có nghĩa là việc của Chúa, là một đoàn thể Công Giáo bào gồm các tu sĩ nam nữ và rất nhiều giáo dân do thánh Giôsêmaria Escriva thiết lập để giúp mọi người sống với ơn gọi nên thánh bằng cách dấn thân truyền giáo trong thế kỷ 20. Hội này được thiết lập vào năm 1928, ngược với thời điểm trong cốt truyện của tác giả Brown trong cuốn sách Mật Mă Da Vinci.

Hội đoàn Opus Dei chú trọng tới tâm linh của các thành viên qua sự khuyến khích mọi người tham dự các tĩnh tâm, học hỏi thánh kinh, làm việc tông đồ. Hội đoàn này không đại diện ṭa thánh Vatican đê thi hành những sứ mạng đen tối và âm thầm như sách của ông Brown diễn giải. Đặc biệt nhất, là hội đoàn này không có tu viện và sinh hoạt một cách công khai chứ không huyền bí trong bóng tối. Tính đến năm 2005, Opus Dei có 85000 thành viên, và trong số các thành viên đó là 98% giáo dân thường, với công ăn việc làm và sự nghiệp. Con số c̣n lại là những linh mục tu sĩ mà đă từng là các giáo dân đạo đức.

Thật là đáng buồn v́ ông Brown đă gợi lên những xuyên tạc hoàn toàn không chính xác về các thành viên trong đoàn thể Opus Dei. Họ là những giáo hữu trung thành sống với tinh thần của Tin Mừng chứ không phải là những tay sai của tội lỗi. Hơn nữa họ không phải là những sát thủ giết người bịt miệng. Xin bấm vào www.opusdei.org để t́m hiểu thêm về đoàn thể Công Giáo này.

Kết Luận
Chúng ta nên có thái độ và hành động ǵ về phim và sách Mật Mă Da Vinci? Hạt Cải xin đề nghị với các GLV hăy lợi dụng dịp này:
1. Nh́n lại đức tin của ḿnh. Hăy để “đức tin t́m hiểu biết”. Chúng ta cần đọc từng câu trong kinh Tin Kính và suy niệm kỹ càng hơn qua sách giáo lư và kinh thánh. Đây là một dịp để giúp mỗi người ôn lại giáo lư căn bản mà đôi khi chúng ta quyên đi.
2. Có thái độ cởi mở và ôn ḥa để đàm thoại với những người ủng hộ phim sách Mật Mă Da Vinci. Hăy lợi dụng những cuộc đàm thoại với họ để vạch ra những sai lầm của cuốn phim sách. Nhưng đặc biệt nhất là bạn hăy mang Tin Mừng trung thực tới với họ để giới thiệu Ngôi Lời Nhập Thể như đă được ghi chép từ Cựu Ước và mở ra trong Tân Ước.
3. Đừng lo lắng về những sách như của ông Dan Brown. Sách này không làm lung lay đức tin chúng ta được v́ nó thuộc loại sách kiêu kích và chống đồi mà dễ đo lường. Trong dụ ngôn hạt giống được reo vào đất, th́ có những hạt đă rơi vào nơi đầy gai, và khi lớn lên th́ nó không sống được. Trách nhiệm của những người cầm bút cũng giống như vậy. Ông Brown đă chọn cách gieo hạt vào những nơi mà hạt giống không thể mọc và xanh tươi được. Ông đă chọn việc làm xuyên tạc những tín lư Kitô giáo để trở nên giàu có và nổi danh.

Đ́nh Thiện

Dựa theo các tài liệu của:
1. Special Report: Cracking the Davinci Code (2004 www.catholic.com)
2. HĐ Giám Mục Hoa Kỳ www.jesusdecoded.com

 

All Copyrights Reserved 2005, Hatcai.net