Last updated:01-14-2007

Trang Tài Liệu       homeTrang nhà    

Volume 03  Issue 04

Công Đồng Vatican 2

Các Văn Kiện

Sau 4  kỳ nhóm họp từ 11.10.1962 đến 08.12.1962 (kỳ 1), từ 29.09.1963 đến 04.12.1963 (kỳ 2), từ 14.09.1964 đến 21.11.1964 (kỳ 3) và từ 14.09.1965 đến 08.12.1965 (kỳ 4), Công đồng Vatican II đă công bố 16 văn kiện chia thành 3 loại khác nhau, với tầm quan trọng khác nhau gồm 4 hiến chế, 9 sắc lệnh và 3 tuyên ngôn:

2.1- Hiến chế

* Là tài liệu tín lư hoặc mục vụ, có giá trị học thuyết vững chắc và lâu bền;

* Có 4 hiến  chế như 4 cột trụ của một ṭa nhà:

¨     Hiến chế tín lư về Mặc Khải của Thiên Chúa (Dei Verbum: Lời Thiên Chúa), công bố ngày 18.11. 1965;

¨     Hiến chế Phụng Vụ Thánh (Sacrosantum Concilium: Thánh Công Đồng), công bố ngày 04.12.1963;

¨     Hiến chế tín lư về Hội Thánh (Lumen Gentium: Anh Sáng muôn dân), công bố ngày 21.11.1964;

¨     Hiến chế mục vụ về Hội Thánh trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes: Vui mừng và Hy vọng), công bố ngày 07.12.1965.

2.2- Sắc Lệnh

* Là tập hợp những quyết định có tính chất thực hành, mục vụ hay kỷ luật dành cho thời đại chúng ta;

* Có 9 sắc lệnh:

¨     Sắc lệnh về Hoạt động truyền giáo của Hội Thánh (Ad gentes: Đến với muôn dân), công bố ngày 07.12.1965;

¨     Sắc lệnh về Trách nhiệm mục vụ của các Giám mục (Christus Dominus: Chúa Kitô) công bố ngày 28.10.1965;

¨     Sắc lệnh về Chức vụ và đời sống các linh mục (Presbytorerum Ordinis: Chức linh mục ), công bố ngày 07.12.1965;

¨     Sắc lệnh về Đào tạo linh mục: Optatam totius: Mọi người mong ước) công bố ngày 28.10.1965;

¨     Sắc lệnh về Canh tân thích nghi đời sống Ḍng tu (Perfectae Caritatis: Đức Ai trọn hảo), công bố ngày 28.10.1965;

¨     Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân (Apostolicam Actuositatem: Phát động việc tông đồ), công bố ngày 18.11.1965;

¨     Sắc lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio: Việc tái lập sự Hiệp Nhất), công bố ngày 21.11.1964;

¨     Sắc lệnh về các Giáo hội Công giáo Đông Phương (Orientalium Ecclesiarum: Giáo hội Công giáo Đông phương), công bố ngày 21.11.1964;

¨     Sắc lệnh về Các Phương tiện truyền thông xă hội (Inter mirifica: Trong những phát minh kỳ diệu), công bố ngày 4.12.1963.

 

2.3 Tuyên Ngôn

* Là một bày tỏ quan điểm của Giáo hội trước một vấn đề mới và đưa ra những phương hướng suy tư và xử sự trong t́nh trạng hiện nay của thế giới.

* Có 3 tuyên ngôn:

¨     Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo (Gravissimum Educationis : Vai tṛ vô cùng quan trọng), công bố ngày 28.10.1965;

¨     Tuyên ngôn về Liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo (Nostra Aetate: Trong thời đại chúng ta), công bố ngày 28.10.1965;

¨     Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo (Dignitatis Humanae: Nhân phẩm), công bố ngày 07.12.1965.

 

2.4 Biểu đồ

       16 văn kiện của Công đồng Vatican II có thể được tŕnh bày trong biểu đồ sau đây

MỐI LIÊN KẾT GIỮA CÁC VĂN KIỆN CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II

       Trong 16 văn kiện của Công đồng Vatican II, ai cũng phải thừa nhận  rằng: Hiến chế tín lư về Giáo hội là văn kiện ṇng cốt nhất. Các văn kiện khác có thể được coi là những triển khai mặt này mặt khác của Hiến chế Giáo hội ấy. Linh mục Rey-Mermet giúp chúng ta nh́n ra mối quan hệ mật thiết giữa Hiến chế tín lư và các  văn kiện khác như sau:

        1.- Giáo hội phát sinh từ “Lời Thiên Chúa” – Dei Verbum -, từ Đức Kitô là nguồn mạch và trung tâm của Lời ấy. Ngài tự mạc khải và cho ta thấy được Chúa Cha trong Kinh Thánh liên kết với Truyền Thống sống động. Cả Thánh Kinh và Thánh Truyền cùng truyền lại cho ta Mặc Khải của Thiên Chúa.

        2.- Trước Mặc Khải ấy, loài người cùng nhau đáp lại cách chính thức trong các ngày lễ và trong những cử hành của Phụng vụ thánh. Phụng vụ này được Thánh Công đồng – Sacrosantum Concilium- chủ trương thích nghi với các dân tộc sống trên toàn cầu của thế kỷ XX.

        3.- Nhờ việc tập hợp Dân Chúa và nhờ các bí tích, chính Phụng vụ ấy làm thành Hội thánh. Nhờ được Chúa Giêsu thiết lập và ở với, Giáo hội này là Anh Sáng muôn dân- Lumen Gentium.

        4.- Là Anh Sáng muôn dân, nên toàn thể Giáo hội là Giáo hội Truyền giáo. Đồng thời Hoạt động truyền giáo của Giáo hội phải đi đến những miền xa xôi nhất, “Đến với các dân ngoại” – Ad Gentes.

        5.- Giáo hội mang tính truyền giáo trước hết chính là nhờ Trách nhiệm mục vụ của các Giám Mục là những người kế vị các Tông Đồ mà Chúa Giêsu- Christus Dominus- gởi đến để tiếp tục sứ mạng của Ngài.

       6.- Tiếp đó, Giáo hội mang tính truyền giáo c̣n nhờ Chức vụ và đời sống các linh mục, là những người cùng chia sẻ “Chức linh mục” –Presbyterorum Ordinis với các Giám mục, ở hàng thứ nh́.

      7.- V́ thế, việc Canh tân “rất đáng ao ước của cả Giáo Hội” – Optatam totius- một phần lớn gắn liền với việc Đào tạo linh mục.

     8.- Sau cùng, Giáo hội mang tính truyền giáo là nhờ Hoạt động tông đồ giáo dân, v́ nhờ đức tin, phép rửa và thêm sức, toàn thể Dân Chúa được đặt vào “hoạt động tông đồ”- Apostolicam Actuositatem.

      9.- Từ đó, việc Giáo dục Kitô giáo là việc hết sức quan trọng –Gravissimum Educationis momentum- đối với cuộc sống con người.

      10.- Toàn thể Dân Chúa đều được mời gọi nên thánh. Nhưng “nơi Đức Ai trọn hảo “ ấy- Perfectae Caritatis – vốn là ơn gọi chung của mọi người đă rửa tội, một trong những dấu chỉ sáng chói là Đời sống tu tŕ sống thành cộng đoàn và khấn giữ sự khiết tịnh, nghèo khó và vâng lời. Nên đời sống ấy có vai tṛ đặc biệt tích cực trong đời sống và sứ mạng Giáo hội.

     11.- Nhưng sự toả sáng của Dân Chúa sẽ rực rỡ biết mấy nếu mọi người đă rửa tội trên thế giới hiệp nhất trong cùng một đức tin Kitô giáo! V́ thế, Đại kết để “lập lại sự thống nhất”- Unitatis redintegratio- là một trong những mục đích chính của Công đồng.

       12.- Việc hợp nhất như thế với các anh em Chính Thống giáo đă có sẵn một nhịp cầu tư nhiên là các Giáo hội Đông phương Công giáo- Orientalium Ecclesiarum.

      13.- Đàng khác, “ở thời đại chúng ta” –Nostra aetate- loài người ngày càng gắn bó mật thiết với nhau, Kitô giáo ư thức về những ǵ ḿnh có chung với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, và đề cập tới những điểm ấy với ḷng kính trọng, t́nh huynh đệ và nềm hy vọng.

     14.- Sự có mặt và lưu tâm đầy ưu ái ấy là thái độ mà Giáo hội trong thế giới ngày nay muốn có trên mọi b́nh diện: “Vui mừng và Hy vọng”- Gaudium et Spes- Ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô”.

     15.- Sự lưu tâm đến thế giới như vậy, không c̣n là bước đường để chinh phục, nhưng là bước đường của t́nh huynh đệ: Giáo hội đ̣i hỏi cho các tôn giáo khác như cho chính ḿnh phải được Tự do tôn giáo, một sự tự do đặt nền tảng không phải trên thái độ lănh đạm đối với chân lư, nhưng là trên “Nhân phẩm”-Dignitatis Humanae.

     16.- Sự tôn trọng tự do người khác nhu thế không ngăn cản sự đối thoại. Ngược lại, và “giữa những khám phá kỳ diệu” ngày nay- Inter mirifica- Các phương tiện truyền thông xă hội cống hiến những khả năng to lớn để nói với thế giới và lắng nghe thế giới.

Giêrôminô Nguyễn V Nội

 

All Copyrights Reserved 2005, Hatcai.net